Bối Cảnh Chung và Sự Phân Hóa Do Lạm Phát
Lạm phát – sự tăng mức giá chung – làm giảm sức mua của đồng tiền, nhưng tác động của nó không phân bố đều giữa các nhóm dân cư. Ở Việt Nam, mức lạm phát từng biến động mạnh (ví dụ trên 20% năm 2008 và ~18% năm 2011) trước khi ổn định quanh mức 3-4% trong những năm gần đây. Sự khác biệt về mức thu nhập, cơ cấu chi tiêu và tài sản của người nghèo, trung lưu và người giàu khiến mỗi nhóm chịu ảnh hưởng lạm phát rất khác nhau. Các hộ gia đình nghèo tiêu tốn phần lớn thu nhập cho các nhu cầu thiết yếu (lương thực, thực phẩm, điện, gas, học phí…), trong khi người giàu chi tiêu tỷ trọng lớn hơn cho hàng hóa và dịch vụ không thiết yếu. Do đó, ngay cả mức lạm phát vừa phải cũng có thể khiến người nghèo chịu “lạm phát cá nhân” cao hơn nhiều so với người giàu. Ngược lại, người giàu với tài sản đa dạng có thể hưởng lợi khi giá tài sản tăng theo lạm phát, thậm chí coi lạm phát là cơ hội đầu tư hơn là mối đe dọa. Tầng lớp trung lưu nằm ở khoảng giữa – họ có thu nhập và một số tài sản tích lũy, nhưng vẫn dễ bị bào mòn thu nhập thực và giá trị tiết kiệm nếu lạm phát tăng cao. Dưới đây, báo cáo phân tích chi tiết tác động của lạm phát đến từng tầng lớp (người nghèo, trung lưu, người giàu) tại Việt Nam, cách mỗi nhóm ứng phó trong giai đoạn lạm phát cao và thấp, cùng các mặt tiêu cực và tích cực (nếu có) đối với mỗi nhóm.
Người Nghèo: “Sống Chung” với Lạm Phát Khắc Nghiệt

Thu nhập và việc làm: Đối với người nghèo, thu nhập thường thấp và chủ yếu dùng để sinh sống cơ bản. Lạm phát khiến giá cả nhu yếu phẩm tăng cao vượt khả năng thu nhập, làm thu nhập thực tế của họ giảm mạnh. Trong giai đoạn lạm phát 25% năm 2008, một công nhân nhà máy ở Hà Nội lương ~60 USD/tháng trước đây nuôi được cả gia đình, nhưng nay lương chỉ đủ trang trải cho bản thân dù đã ở trọ tập thể và chi tiêu cực kỳ tiết kiệm. Nhiều lao động nghèo cho biết “dù có tằn tiện đến mấy, cuối tháng cũng không còn đồng nào”. Khi giá cả leo thang, họ khó đòi hỏi tăng lương kịp mức lạm phát; nhiều người đành chấp nhận làm thêm giờ, làm nhiều công việc hoặc chấp nhận mức sống thấp hơn. Mặt khác, lạm phát vừa phải kèm tăng trưởng có thể tạo thêm việc làm (nhờ kinh tế sôi động hơn), phần nào có lợi cho người lao động nghèo. Thực tế cho thấy mức lạm phát nhẹ (~2-4%) có thể kích thích tạo việc làm trong các ngành thâm dụng lao động, giúp giảm thất nghiệp và giảm bất bình đẳng so với trường hợp suy thoái không lạm phát. Tuy nhiên, lợi ích này gián tiếp và về ngắn hạn, người nghèo vẫn chịu thiệt thòi tức thì nếu giá cả tăng nhanh hơn thu nhập.
Chi tiêu và đời sống hàng ngày: Người nghèo phải “sống chung” với lạm phát hàng ngày, cảm nhận rõ từng đợt tăng giá của mớ rau, cân thịt, bình gas nhiều hơn bất kỳ chỉ số CPI nào. Phần lớn thu nhập của họ dành cho lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu khác. Chính vì thế, khi giá các mặt hàng này tăng, chi phí sinh hoạt của hộ nghèo tăng vọt và họ hầu như không có lựa chọn thay thế. Ví dụ, năm 2020 lạm phát chung ~3,23% nhưng giá lương thực tăng 4,5%, giá thực phẩm tăng tới 12,3%. Những mặt hàng thiết yếu này chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu của hộ nghèo và không thể cắt giảm hay trì hoãn mua sắm. Kết quả là “dù lạm phát chung vừa phải thì người nghèo cũng đã bị ảnh hưởng nặng nề so với người giàu ở Việt Nam”. Thậm chí, trong khủng hoảng đại dịch 2020-2021, giá lương thực và nhu yếu phẩm tăng cộng với mất việc làm đã giáng một đòn kép vào người thu nhập thấp, khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh thiếu đói. Thống kê tại Hà Nội năm 2008 cho thấy giá lương thực tăng 30-40% so với năm trước, đẩy nhiều hộ gia đình sát ngưỡng nghèo trở lại cảnh đói nghèo. Số hộ thiếu đói năm 2008 đã tăng gấp đôi so với năm trước đó – một tín hiệu rõ ràng về mức độ tổn thương của người nghèo trước bão giá. Trong bối cảnh như vậy, người nghèo buộc phải thắt lưng buộc bụng, cắt giảm cả những nhu cầu thiết yếu: bữa ăn cuối tháng đạm bạc hơn, có người bỏ bữa hoặc giảm khẩu phần; chi tiêu cho y tế, giáo dục của con cái cũng bị cắt giảm hoặc trì hoãn, ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng cuộc sống.
Tiết kiệm và nợ nần: Nhóm nghèo thường không có nhiều tích lũy; bất kỳ khoản tiền nhỏ nào dành dụm thường ở dạng tiền mặt hoặc gởi ngân hàng ngắn hạnvnf.info.vn. Khi lạm phát cao, đồng tiền mặt mất giá từng ngày, khoản tiết kiệm ít ỏi nhanh chóng hao hụt giá trị. Chẳng hạn, lãi suất ngân hàng có thể không theo kịp lạm phát, khiến người gửi tiết kiệm chịu lãi suất thực âm (mất tiền thay vì sinh lời). Người nghèo hầu như không có tài sản lớn (nhà đất, vàng) để bảo toàn giá trị, nên lạm phát làm họ “trắng tay” dần dần về tài chính. Ngược lại, họ có thể phải vay nợ để trang trải khi giá cả leo thang, ví dụ vay trả góp mua thực phẩm hoặc vay tín dụng đen cho chi phí y tế khẩn cấp. Năm 2008, có gia đình nông dân nghèo ở Hà Nội kể rằng “phải dùng hết tiền tiết kiệm trả viện phí, cuộc sống nay rất chật vật”. Nợ nần chồng chất với lãi cao trong thời kỳ lạm phát lại càng khó trả, dễ đẩy họ vào vòng luẩn quẩn nghèo đói.
Hành vi ứng phó: Không có nhiều công cụ tài chính, người nghèo chỉ có thể co mình lại, giảm chi tiêu và hy sinh nhiều nhu cầu cơ bản để chống chọi với lạm phát. Họ ưu tiên chi tiêu cho cái ăn, chỗ ở trước, cắt giảm tối đa các khoản khác (đến mức tối thiểu). Nhiều lao động nghèo chấp nhận làm thêm giờ, làm việc trong điều kiện khó khăn hơn để kiếm thêm thu nhập bù đắp giá cả tăng. Một số trường hợp cực đoan, trẻ em trong nhà có thể phải nghỉ học sớm để đi làm phụ giúp gia đình. Di cư lao động cũng là một cách: người nghèo từ nông thôn đổ ra thành thị mong tìm việc lương cao hơn khi vật giá leo thang ở quê nhà, dù điều này không phải lúc nào cũng thành công (cạnh tranh việc làm cao). Về mặt xã hội, lạm phát cao có thể dẫn tới bất ổn: tại Việt Nam năm 2008, giá sinh hoạt tăng đã châm ngòi cho hơn 300 cuộc đình công trong nửa đầu năm (gấp đôi cùng kỳ năm trước) khi công nhân yêu cầu tăng lương bù lạm phát. Chính phủ thường phải can thiệp hỗ trợ nhóm yếu thế: ví dụ năm 2008 tạm ngưng xuất khẩu gạo, áp giá trần một số mặt hàng như xăng dầu, xi măng… để hạ nhiệt giá trong nước. Năm 2011, trước lạm phát gần 18%, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11 thắt chặt tiền tệ, tài khóa nhưng ưu tiên ngân sách đảm bảo an sinh xã hội như hỗ trợ hộ nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở… Tổng kinh phí ~3.300 tỷ đồng đã được giải ngân hỗ trợ trực tiếp người thu nhập thấp, giúp giảm bớt gánh nặng do giá cả tăng. Nhờ các biện pháp này, tỷ lệ hộ nghèo vẫn giảm trên 2% năm 2011 (còn ~14% cuối năm) dù lạm phát cao – cho thấy vai trò quan trọng của hỗ trợ nhà nước trong việc giảm thiểu tác động của lạm phát lên người nghèo.
Tác động trong các giai đoạn lạm phát khác nhau: Trong giai đoạn lạm phát cao, người nghèo chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Các nghiên cứu chỉ ra lạm phát tăng cao có thể xóa nhòa thành quả giảm nghèo nhiều năm: “Giá gạo tăng cao chắc chắn sẽ đẩy một số hộ vừa thoát nghèo lại rớt xuống dưới chuẩn nghèo”. Thực tế năm 2008, nhiều gia đình tái nghèo do giá lương thực, thực phẩm leo thang vượt xa thu nhập. Đời sống người dân, đặc biệt người nghèo năm 2011 cũng “gặp nhiều khó khăn” bởi bất ổn kinh tế và lạm phát cao. Ngược lại, trong giai đoạn lạm phát thấp và ổn định, người nghèo được hưởng lợi nhờ giá cả thiết yếu tăng chậm. Những năm 2015-2019, CPI quanh 3% hoặc thấp hơn giúp ổn định chi tiêu của hộ nghèo, giảm bớt áp lực cơm áo gạo tiền, tạo điều kiện để họ tích lũy chút ít hoặc cải thiện dinh dưỡng, đời sống. Kết hợp với tăng trưởng kinh tế và chính sách hỗ trợ, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam liên tục giảm khi lạm phát được kiềm chế. Tuy nhiên, nếu lạm phát quá thấp do kinh tế suy yếu (giả sử suy thoái), người nghèo lại có thể mất việc làm – đó là mặt trái cần cân nhắc. Nhìn chung, người thu nhập thấp mong muốn lạm phát vừa phải, ổn định kèm tăng trưởng để vừa không bị giá cả “bóp nghẹt”, vừa có cơ hội việc làm thu nhập cao hơn.
Mặt tiêu cực đối với người nghèo: Lạm phát tác động tiêu cực rõ rệt đến nhóm nghèo:
- Erosion of Real Income (Thu nhập thực giảm): Giá cả nhu yếu phẩm tăng nhanh làm đồng lương ít ỏi của họ mất giá trị, dẫn đến mức sống suy giảm.
- Higher Personal Inflation (Lạm phát “cá nhân” cao): Do chi tiêu chủ yếu cho thực phẩm, năng lượng, họ phải gánh mức lạm phát cao hơn trung bình, ảnh hưởng nặng nề dù CPI chung có thể chỉ ở mức vừa phải.
- Depletion of Savings & Debt (Tiết kiệm hao hụt, nợ tăng): Lạm phát bào mòn những khoản tiết kiệm nhỏ, buộc nhiều gia đình phải vay nợ để sinh sống, dễ rơi vào bẫy nợ và tái nghèo.
- Reduced Consumption & Welfare (Cắt giảm tiêu dùng, phúc lợi): Người nghèo phải cắt giảm cả nhu cầu thiết yếu (ăn uống, chữa bệnh, học hành), kéo theo hệ lụy dinh dưỡng kém, sức khỏe giảm và cơ hội học tập thấp hơn cho con cái.
- Social Unrest Risk (Nguy cơ bất ổn xã hội): Bức xúc vì giá cả, thu nhập giảm có thể dẫn tới đình công, bất ổn. Lạm phát cao 2008-2009 từng chứng kiến làn sóng đình công đòi tăng lương trong công nhân.
Mặt tích cực (nếu có) đối với người nghèo: Trực tiếp mà nói, lạm phát hiếm khi mang lợi ích cho người nghèo, nhưng có một số khía cạnh tích cực gián tiếp:
- Job Creation from Moderate Inflation (Việc làm tăng khi lạm phát vừa phải): Mức lạm phát nhẹ (trên ~2%) đi kèm tăng trưởng có thể kích thích sản xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho lao động phổ thông, giúp người nghèo có thu nhập và cơ hội thoát nghèo.
- Debt Erosion (Giảm gánh nặng nợ): Với những hộ nghèo vay nợ cố định (ví dụ vay ưu đãi nhà nước), lạm phát làm giá trị thực của khoản nợ giảm đi theo thời gian, giúp họ trả nợ “nhẹ” hơn đôi chút. (Tuy nhiên lợi ích này nhỏ vì ít người nghèo vay khoản dài hạn lãi cố định).
- Higher Commodity Prices for Producers (Giá nông sản tăng cho người bán): Một bộ phận người nghèo nông thôn sản xuất nông sản có thể hưởng lợi khi giá nông sản tăng (bán được giá cao hơn). Ví dụ nông dân trồng lúa được mùa có thể thu lợi hơn khi giá gạo lên cao, bù đắp phần nào chi phí sinh hoạt tăng. (Dù vậy, lợi ích này không chắc chắn vì nông dân cũng chịu chi phí đầu vào cao và nhiều hộ nông thôn vẫn là net mua lương thực).
Tầng Lớp Trung Lưu: Chật Vật Bảo Toàn Thu Nhập và Tài Sản
Hình 2: Khu đô thị mới tại TP.HCM; tầng lớp trung lưu lo lắng khi giá tài sản như bất động sản tăng vọt vượt xa thu nhập, đe dọa “giấc mơ trung lưu” của họ.
Thu nhập và mức sống: Tầng lớp trung lưu ở Việt Nam (thường gồm những người có thu nhập ổn định từ khoảng 30 – 75 triệu đồng/tháng ở đô thị) thường được coi là có mức sống tương đối thoải mái và có khả năng tích lũy. Tuy nhiên, khi lạm phát tăng, họ phải đối mặt với mất mát thu nhập thực do giá cả tăng nhanh hơn mức tăng lương. Nhiều người trung lưu là công chức, nhân viên văn phòng hoặc chủ doanh nghiệp nhỏ – thu nhập của họ thường tăng ~5-10%/năm, trong khi giá nhà đất, vàng có năm tăng đến vài chục phần trăm. Điều này có nghĩa là mức sống trung lưu bị đe dọa “nghèo hóa” tương đối khi tài sản tích lũy được bỗng trở nên nhỏ bé so với chi phí mua nhà, xe hiện tại. Trong giai đoạn lạm phát cao, nếu doanh nghiệp làm ăn khó khăn hoặc chính sách thắt chặt tiền tệ khiến kinh tế giảm tốc, tầng lớp trung lưu còn đối mặt nguy cơ mất việc, giảm thu nhập. Ví dụ, đầu năm 2023-2024 khi kinh tế toàn cầu suy yếu và giá cả ở Việt Nam leo thang, nhiều nhân sự văn phòng lo lắng bị cắt giảm lương thưởng trong lúc mọi chi phí sinh hoạt đều tăng. Ngược lại, khi lạm phát thấp ổn định, người trung lưu thường được tăng lương chậm hơn nhưng ổn định, họ duy trì được sức mua và kế hoạch tài chính dài hạn dễ dàng hơn.
Chi tiêu và thói quen tiêu dùng: Người trung lưu có cơ cấu chi tiêu đa dạng hơn người nghèo. Họ không chỉ chi cho thực phẩm mà còn dành một phần thu nhập cho giáo dục con cái, y tế chất lượng cao, giải trí, du lịch, mua sắm các tiện nghi cuộc sống (điện thoại, xe cộ, đồ gia dụng tốt hơn). Lạm phát làm thay đổi đáng kể hành vi tiêu dùng của nhóm này. Khi giá cả tăng cao, tầng lớp trung lưu có xu hướng thắt chặt chi tiêu không thiết yếu: họ có thể giảm ăn nhà hàng, hủy kế hoạch du lịch, trì hoãn mua sắm đồ đắt tiền (như xe hơi, đồ điện tử cao cấp) để ưu tiên ngân sách cho những khoản bắt buộc (tiền chợ, tiền điện nước, học phí, xăng xe). Chẳng hạn, giá xăng tăng gần 50% giai đoạn 2021-2022 đã buộc nhiều gia đình trung lưu cân nhắc việc sử dụng ô tô cá nhân, chuyển sang phương tiện công cộng hoặc đi lại ít hơn. Họ cũng chịu tác động bởi lạm phát trong dịch vụ: giá giáo dục tăng ~4-5% một năm (như năm 2020) và giá dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế cũng có thể tăng, khiến ngân sách gia đình phải phân bổ thêm cho những khoản này. Tiền nhà, tiền thuê nhà ở đô thị cũng tăng khi lạm phát (chủ nhà tăng giá cho thuê để bù trượt giá), tạo áp lực lên người trung lưu chưa có nhà riêng. Nhìn chung, họ phải tính toán lại chi tiêu gia đình, lập kế hoạch tài chính chặt chẽ hơn mỗi khi vật giá leo thang.
Tiết kiệm và tích lũy tài sản: Tầng lớp trung lưu thường có một khoản tiết kiệm dự phòng và một phần tài sản dưới dạng tiền gửi ngân hàng, bảo hiểm, hoặc vàng tích trữ. Lạm phát cao có thể xói mòn giá trị những khoản tiết kiệm bằng tiền nếu lãi suất tiền gửi không theo kịp lạm phát. Ví dụ, trong giai đoạn lạm phát ~18% năm 2011, dù lãi suất tiết kiệm ngân hàng lên tới ~14%/năm, người gửi tiền vẫn lỗ khoảng 4% về sức mua (lãi suất thực âm) – “gửi tiền ngân hàng lãi 6% nhưng rút ra chỉ còn 2%” vì trượt giá. Do đó, người trung lưu thường tìm kênh trú ẩn an toàn cho tiền mỗi khi dự báo lạm phát tăng: họ có xu hướng mua vàng, ngoại tệ (USD), hoặc bất động sản nhỏ để “chống trượt giá” thay vì giữ tiền đồng. Thực tế, sau đợt lạm phát 2008-2011, nhiều gia đình trung lưu Việt Nam đã rút bớt tiền tiết kiệm để mua vàng miếng, mua đất – những tài sản được cho là giữ giá tốt. Tuy nhiên, việc tài sản như vàng, nhà đất tăng giá quá nhanh cũng đặt người trung lưu vào tình thế khó xử: nếu chần chừ, họ sợ tiền mặt bị mất giá; nhưng nếu giá vàng đã lên 100 triệu đồng/lượng hay nhà đất “sốt” gấp đôi chỉ sau vài năm, nhiều người cầm vài tỷ đồng trong tay vẫn bối rối không biết đầu tư vào đâu. Báo chí ghi nhận cảnh gia đình ở Hà Nội có 2 tỷ đồng tiết kiệm mà “ngồi trên đống lửa” vì vàng liên tục lập đỉnh trên 100 triệu/lượng, bất động sản vùng ven cũng “nóng sốt” từng ngày; họ sợ nếu không kịp mua tài sản, đồng tiền sẽ mất giá dần. Tâm lý này khá phổ biến trong giới trung lưu: lo ngại bị tụt hậu tài sản nếu không đầu tư kịp lúc lạm phát. Ngược lại, trong thời kỳ lạm phát thấp (ví dụ 2015-2016 CPI ~1-2%), gửi tiết kiệm ngân hàng có lãi suất thực dương ổn định ~3-5% là kênh an toàn được ưa chuộng, giúp họ bảo toàn và tăng dần của để dành mà không quá lo lắng.
Khả năng đầu tư và vay mượn: Với mức thu nhập và tích lũy nhất định, tầng lớp trung lưu có khả năng tham gia các kênh đầu tư. Lạm phát thay đổi chiến lược đầu tư của nhóm này khá rõ. Thứ nhất, họ có thể xem xét vay vốn để đầu tư tài sản lớn khi dự đoán lạm phát sẽ tiếp tục (bởi kỳ vọng lạm phát sẽ làm tài sản tăng giá và làm “rẻ” đi khoản nợ). Ví dụ, một số gia đình trung lưu Hà Nội cân nhắc vay ngân hàng lãi suất thấp để mua đất, mua nhà trong lúc lãi suất cho vay còn ưu đãi và lo ngại đồng tiền mất giá trong tương lai. Nếu họ vay mua nhà với lãi cố định, lạm phát sau đó tăng cao sẽ giúp họ trả nợ bằng tiền rẻ hơn (một hiện tượng có lợi cho con nợ nếu cố định lãi suất thấp trước đó). Tuy nhiên, đa số khoản vay ở Việt Nam có lãi suất thả nổi, nên rủi ro lãi tăng cũng khiến nhiều người e dè “không dám vay để đầu tư khi thu nhập còn bấp bênh”. Thứ hai, người trung lưu đầu tư mạnh vào vàng và bất động sản – kênh truyền thống để tích lũy lâu dài. Nhờ vậy, không ít người đã “phất lên” khi lạm phát khiến giá đất, giá vàng leo thang: ai mua từ sớm đã có túi tiền rủng rỉnh hơn hẳn. Nhưng không phải ai cũng gặp may; những người “chậm chân” hoặc ngại rủi ro, giữ tiền mặt quá lâu thì nay chịu áp lực lớn vì tài sản ưa thích đã vượt khả năng mua. Ngoài ra, một bộ phận trung lưu đầu tư vào chứng khoán với kỳ vọng cổ phiếu của các công ty sẽ tăng giá khi doanh thu danh nghĩa tăng do lạm phát. Điều này từng đúng trong giai đoạn 2020-2021 khi thị trường chứng khoán Việt Nam bùng nổ, một phần nhờ thanh khoản rẻ và kỳ vọng phục hồi kinh tế, giúp nhiều nhà đầu tư trung lưu lãi lớn. Tuy nhiên, chứng khoán cũng rất nhạy cảm với lạm phát: khi Ngân hàng Nhà nước thắt chặt chính sách tiền tệ để chống lạm phát (tăng lãi suất), thị trường chứng khoán có thể giảm mạnh, khiến nhà đầu tư thua lỗ. Tóm lại, người trung lưu có nhiều kênh đầu tư hơn người nghèo nhưng cũng phải tính toán cẩn trọng trong thời lạm phát để bảo toàn thành quả lao động của mình.
Hành vi kinh tế và ứng phó: Tầng lớp trung lưu thường có kiến thức tài chính tốt hơn và chủ động ứng phó trước biến động kinh tế. Họ theo dõi sát tin tức thị trường, dự báo lạm phát để ra quyết định tiêu dùng và đầu tư. Một số hành vi điển hình gồm: điều chỉnh danh mục tài sản (chuyển từ tiền VND sang vàng, USD, bất động sản khi lạm phát cao), mua sắm tích trữ (mua thực phẩm hoặc hàng lâu bền trước khi giá tăng thêm), và điều chỉnh lối sống (tiết kiệm hơn, chuyển con sang trường học phí thấp hơn, v.v. nếu cần). Tầng lớp này cũng biết tận dụng dịch vụ tài chính: họ có thể gửi tiết kiệm kỳ hạn ngắn để linh hoạt rút khi cần tái đầu tư, hoặc tham gia các chương trình ngân hàng, bảo hiểm liên kết đầu tư để chống trượt giá. Trong công việc, người trung lưu có xu hướng đàm phán lương khi lạm phát cao hoặc nhảy việc sang nơi trả lương cao hơn để bắt kịp chi phí sinh hoạt. Ngoài ra, họ quan tâm đến chính sách của Chính phủ: ví dụ khi có tin Nhà nước giảm thuế, trợ giá (xăng dầu, điện) họ sẽ điều chỉnh kế hoạch chi tiêu; hoặc nếu dự báo siết tín dụng bất động sản, họ cân nhắc lại quyết định mua nhà. Nói cách khác, nhóm trung lưu linh hoạt và toan tính hơn để duy trì vị thế kinh tế của mình trong bối cảnh lạm phát biến động.
Tác động trong các giai đoạn lạm phát khác nhau: Trong thời kỳ lạm phát cao, tầng lớp trung lưu cảm thấy sức ép lớn để “giữ chỗ” trong xã hội. Họ chứng kiến giá trị tài sản mơ ước (căn hộ, ô tô) tăng nhanh hơn khả năng tài chính, dẫn đến cảm giác bị tụt lại. Một bài báo ví tình cảnh này như “thu nhập khá cao, có vài tỷ đồng nhưng lo bị ‘nghèo hóa’ nếu lạm phát cao, giá vàng, BĐS leo thang”. Giai đoạn 2021-2022, khi lạm phát toàn cầu dâng cao, nhiều người trung lưu Việt Nam hối hả tìm nơi đầu tư an toàn, rút tiền khỏi kênh tiết kiệm truyền thống. Tuy nhiên, cũng có người mắc sai lầm, chẳng hạn lao vào “lướt sóng” bất động sản khi giá đã quá cao và gặp rủi ro khi thị trường đảo chiều (bong bóng xì hơi). Lạm phát cao kèm lãi suất cao năm 2011 đã khiến không ít người vay mua nhà trả góp phải bán lỗ tài sản vì lãi tăng vượt tầm kiểm soát thu nhập. Ngược lại, trong giai đoạn lạm phát thấp ổn định, tầng lớp trung lưu thường hưởng lợi: giá cả ổn định giúp họ dễ tích lũy của cải hơn (ví dụ mua nhà trả góp với lãi suất thấp, giá nhà tăng chậm hợp lý) và có dư địa chi tiêu cho chất lượng sống (du lịch, hưởng thụ nhiều hơn khi vật giá không tăng đột biến). Những năm lạm phát thấp cũng thúc đẩy mở rộng tín dụng tiêu dùng (ngân hàng cho vay lãi suất thấp mua nhà, xe), tạo điều kiện cho nhiều gia đình trung lưu “lên đời” tài sản. Tuy nhiên, một mặt trái là lạm phát quá thấp đôi khi đi kèm tăng trưởng chậm, có thể làm thu nhập họ tăng chậm lại. Dù vậy, đa phần người trung lưu thích môi trường lạm phát kiểm soát, dự đoán được để an tâm làm ăn và lo cho tương lai con cái.
Mặt tiêu cực đối với tầng lớp trung lưu:
- Reduced Purchasing Power (Sức mua giảm): Lạm phát cao làm lương và thu nhập không tăng kịp giá cả, khiến tầng lớp trung lưu phải thắt lưng buộc bụng, hạ mức sống (ít giải trí, mua sắm hơn).
- Erosion of Savings (Tiền tiết kiệm mất giá): Tiền gửi ngân hàng hoặc tích lũy tiền mặt bị mất giá trị thực nếu lạm phát vượt lãi suất, làm tan biến một phần thành quả tiết kiệm bao nămplo.vn.
- Asset Attainability (Khó tiếp cận tài sản lớn): Giá nhà đất, vàng tăng “dựng đứng” trong các cơn sốt lạm phát tài sản, vượt xa tốc độ tăng thu nhập, khiến ước mơ mua nhà, mua xe của nhiều gia đình trung lưu càng xa vời. Việc duy trì vị thế trung lưu trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết.
- Financial Stress & Uncertainty (Căng thẳng tài chính): Nhóm trung lưu liên tục phải lo lắng tính toán bảo toàn tài sản, tìm kênh đầu tư phù hợp trong bối cảnh biến động kinh tế. Tâm lý bất an về tương lai tài chính gia đình tăng cao khi lạm phát mất kiểm soát.
- Riskier Investment Behavior (Hành vi đầu tư rủi ro): Áp lực lạm phát có thể đẩy một số người trung lưu vào quyết định đầu tư mạo hiểm (vay tiền mua tài sản, đầu tư chứng khoán lướt sóng…) để giữ kịp tốc độ trượt giá, làm tăng rủi ro thua lỗ nặng nếu tính toán sai.
Mặt tích cực đối với tầng lớp trung lưu:
- Debt Advantage (Lợi thế khoản nợ): Nếu biết tận dụng, người trung lưu có thể hưởng lợi từ lạm phát qua hiệu ứng đòn bẩy: Ví dụ vay mua nhà với lãi suất thấp cố định, khi lạm phát tăng, lương tăng danh nghĩa giúp trả nợ dễ hơn, trong khi giá trị căn nhà tăng theo lạm phát – tài sản ròng của họ tăng lên. Điều này giúp một số hộ trung lưu tăng tài sản nhanh hơn so với trường hợp không có lạm phát.
- Asset Appreciation (Tài sản tăng giá): Nhiều người trung lưu sở hữu một căn nhà, mảnh đất hoặc một ít vàng – lạm phát đẩy giá những tài sản này lên, làm tăng giá trị tài sản ròng của họ. Ví dụ, ai mua vàng, bất động sản từ sớm đã thấy tài sản “rủng rỉnh” hơn khi giá tăng. Điều này tạo cảm giác giàu lên về tài sản (dù lưu ý là lợi ích chỉ hiện thực khi bán tài sản).
- Incentive to Invest/Upgrade Skills (Thúc đẩy đầu tư và nâng cao kỹ năng): Biết rằng tiền mặt mất giá, người trung lưu có động lực học hỏi kiến thức tài chính, đầu tư vào nhiều kênh sinh lời hoặc đầu tư cho bản thân (học thêm, nâng cao chuyên môn) để tăng thu nhập. Về dài hạn, điều này có thể giúp họ thích ứng tốt hơn với biến động kinh tế.
- Economic Opportunities in Growth (Cơ hội trong môi trường tăng trưởng): Một môi trường lạm phát vừa phải đi kèm tăng trưởng cao của Việt Nam mang lại nhiều cơ hội làm ăn, kinh doanh. Nhóm trung lưu có vốn và kỹ năng có thể khởi nghiệp, mở rộng kinh doanh, tận dụng thị trường sôi động để nâng cao vị thế kinh tế của mình.
Người Giàu: Vừa “Chớp Cơ Hội” vừa Đối Mặt Rủi Ro Tiềm Ẩn
Thu nhập, tài sản và chi tiêu: Đối với giới giàu có, tiền bạc chủ yếu là công cụ đầu tư, không đơn thuần là phương tiện sinh tồn như với người nghèo. Họ sở hữu danh mục tài sản đa dạng: bất động sản cho thuê, cổ phiếu doanh nghiệp, vàng, ngoại tệ, thậm chí các tài sản thay thế như tác phẩm nghệ thuật, sưu tầm giá trị…. Nhờ vậy, người giàu có nhiều “phao cứu sinh” vượt qua sóng lạm phát – khi đồng tiền mất giá, tài sản hữu hình của họ lại tăng theo lạm phát, giúp bảo toàn sức mua tài sản ròng. Ví dụ, nếu giá tiêu dùng tăng 5% một năm, giá bất động sản, cổ phiếu thường cũng tăng tương ứng theo kỳ vọng lạm phát, trong khi các khoản nợ trước đây của họ lại rẻ đi 5% mỗi năm nếu lãi suất cố định, tạo lợi kép. Thật vậy, lạm phát ở mức vừa phải thậm chí được coi là có lợi trên phương diện tài sản ròng cho giới trung lưu và giàu, và nghiên cứu tại Mỹ cho thấy lạm phát giúp giảm bớt tốc độ gia tăng bất bình đẳng (do tài sản trung lưu có đòn bẩy tăng nhanh hơn tài sản giới siêu giàu hoàn toàn bằng vốn tự có).
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam cụ thể, giới giàu vẫn có những lợi thế vượt trội trước lạm phát: Họ chi tiêu tỷ trọng nhỏ thu nhập cho nhu yếu phẩm, nên không “cảm nhận” lạm phát nặng nề qua giá thực phẩm, nhiên liệu như người nghèo. Rổ hàng hóa dịch vụ của họ gồm nhiều mặt hàng cao cấp hoặc xa xỉ, mà giá cả các mặt hàng này thường ổn định hơn hoặc tăng chậm nhờ cạnh tranh và công nghệ (ví dụ giá đồ điện tử, dịch vụ du lịch cao cấp có thể còn giảm theo thời gian). Do đó, mức lạm phát cá nhân của nhóm giàu thường thấp hơn nhóm nghèo – một nghiên cứu cho thấy nhóm giàu nhất ở Mỹ trải qua lạm phát thấp nhất vì các mặt hàng họ chi tiêu có nhiều đổi mới, cạnh tranh làm giá giảm. Ở Việt Nam, điều này thể hiện ở chỗ lạm phát lương thực, thực phẩm ít ảnh hưởng người giàu (chiếm tỷ trọng nhỏ trong chi tiêu của họ), trong khi các dịch vụ cao cấp họ dùng (nhà hàng sang trọng, hàng hiệu) thường giữ giá để giữ khách. Thậm chí trong đại dịch COVID-19 kèm lạm phát 2020-2021, người giàu càng giàu thêm khi tài sản tài chính tăng vọt: thị trường chứng khoán VN-Index tăng ~48% trong năm 2021, giá bất động sản nhiều nơi cũng tăng mạnh. Phần lớn người giàu không bị mất việc trong đại dịch (do họ là chủ doanh nghiệp hoặc quản lý có thể làm việc từ xa), nhờ đó “giàu lại càng giàu”, trong khi người nghèo mất thu nhập và chịu lạm phát cao ở lương thực. Kết quả là khoảng cách giàu nghèo nới rộng trong thời kỳ lạm phát đó.
Bảo toàn và gia tăng tài sản trong lạm phát: Giới giàu coi lạm phát như một biến số để lên kế hoạch đầu tư. Họ thường đi trước một bước: khi dự báo lạm phát tăng, họ điều chỉnh danh mục theo hướng có lợi nhất. Một số chiến lược phổ biến: nắm giữ tài sản thực (bất động sản, vàng) nhiều hơn, đầu tư ra nước ngoài (mua ngoại tệ mạnh, gửi tiền tại ngân hàng nước ngoài để tránh mất giá VND), hoặc chuyển sang tài sản có thu nhập gắn với lạm phát (như cổ phiếu ngành hàng tiêu dùng cơ bản, năng lượng – những ngành có thể tăng giá bán theo lạm phát). Khả năng tiếp cận thông tin và công cụ phái sinh cũng giúp người giàu phòng ngừa rủi ro lạm phát tốt hơn. Ví dụ, họ có thể ký hợp đồng kỳ hạn mua ngoại tệ, mua trái phiếu doanh nghiệp có lãi suất thả nổi theo CPI, hoặc đầu tư vào quỹ chỉ số hàng hóa để hưởng lợi từ giá hàng hóa tăng. Bên cạnh đó, vì quy mô tài sản rất lớn, người giàu thường có một phần tài sản trong các lĩnh vực vẫn tăng trưởng thực dù lạm phát (ví dụ đầu tư vào công ty công nghệ, startup sáng tạo) – nếu những khoản này thành công, lợi nhuận vượt xa tỷ lệ lạm phát, bù đắp cho tổn thất sức mua ở những tài sản khác.
Một ví dụ điển hình: Năm 2021, lãi suất cho vay thấp kỷ lục, nhiều doanh nghiệp lớn và nhà đầu tư giàu vay vốn mạnh để mở rộng đầu tư. Khi kinh tế hồi phục kèm lạm phát nhẹ, giá trị doanh nghiệp tăng, tài sản đất đai tăng, còn khoản nợ vay trước đó trở nên “nhẹ gánh” hơn do lạm phát làm giảm giá trị thực phải trả. Tuy nhiên, không phải không có rủi ro: nếu lạm phát phi mã ngoài tầm kiểm soát, Chính phủ sẽ thắt chặt tiền tệ mạnh (tăng lãi suất cao) – điều này có thể giảm giá các tài sản tài chính và bất động sản, gây thiệt hại cho cả người giàu. Thêm nữa, lạm phát quá cao có thể dẫn đến khủng hoảng tiền tệ (mất giá VND nhanh), khi đó dù người giàu nắm nhiều tài sản, giá trị tài sản tính theo ngoại tệ có thể sụt giảm. Dẫu vậy, giới thượng lưu thường đã đa dạng hóa toàn cầu, nên tác động xấu bị hạn chế phần nào.
Hành vi kinh tế và ứng phó: Người giàu có tầm ảnh hưởng kinh tế lớn, nên cách họ ứng phó lạm phát cũng khác biệt. Họ có thể tác động chính sách (trực tiếp hoặc gián tiếp) nhằm duy trì môi trường kinh doanh ổn định – ví dụ, vận động cho chính sách kìm chế lạm phát để bảo toàn giá trị tài sản. Một số doanh nhân lớn, khi dự báo lạm phát tăng, sẽ điều chỉnh giá sản phẩm/dịch vụ của công ty họ kịp thời để duy trì biên lợi nhuận, nghĩa là họ có quyền định giá và có thể chuyển gánh nặng lạm phát sang người tiêu dùng. Mặt khác, người giàu cũng chi tiêu theo kiểu khác: họ có thể đẩy mạnh mua sắm tài sản giá trị (mua thêm nhà đất, sưu tập) trong giai đoạn lạm phát để “đón đầu” tăng giá, hoặc trì hoãn bán tài sản (giữ tài sản chờ giá tăng thêm). Trong sinh hoạt thường ngày, lạm phát cao có thể ít ảnh hưởng thói quen của họ hơn – một đại gia có thể vẫn mua xe sang, đi du lịch nước ngoài dù giá xăng tăng, đơn giản vì thu nhập họ quá lớn so với chi phí đó. Tuy vậy, mức độ hài lòng của người giàu với môi trường lạm phát phụ thuộc vào khả năng kiểm soát: họ thích lạm phát vừa phải, có thể dự đoán (để tài sản tăng trưởng ổn định) hơn là biến động khó lường. Nếu lạm phát trở nên bất ổn, họ sẵn sàng dịch chuyển tài sản ra khỏi ngành rủi ro cao hoặc ra khỏi quốc gia để bảo vệ của cải.
Tác động trong các giai đoạn lạm phát khác nhau: Trong giai đoạn lạm phát cao, đa số người giàu tại Việt Nam vẫn tìm cách trục lợi hoặc ít nhất là “đi sau” lạm phát để không bị thua thiệt. Chẳng hạn, giai đoạn 2008 lạm phát 25% và VND mất giá ~30% so với USD, các nhà giàu nhanh chóng chuyển sang giữ vàng, USD – nhờ đó bảo toàn giá trị khi đồng nội tệ trượt giá. Họ cũng đầu tư mạnh vào đất đai, tài sản hữu hình vì biết rằng những thứ đó sẽ “chạy trước” lạm phát. Kết quả là sau khủng hoảng, họ sở hữu tỷ trọng tài sản lớn hơn trong xã hội. Phân hóa giàu nghèo tăng lên rõ: Báo cáo cho thấy “đại dịch và lạm phát lương thực thiết yếu đã làm người giàu càng giàu, chỉ có người nghèo là chịu thiệt kép, đẩy bất bình đẳng tăng lên”thesaigontimes.vnthesaigontimes.vn. Ngược lại, cũng có một bộ phận nhà giàu gặp khó trong lạm phát cao: những doanh nghiệp lớn vay nợ nhiều có thể lao đao vì lãi suất tăng đột biến (thập niên 1980s nhiều doanh nghiệp Việt Nam phá sản khi lãi suất chạm 20-25%/năm, chi phí vốn đội lên quá sức). Tuy vậy, những người giàu có tiềm lực thường đã tính toán phòng bị, họ chịu đựng được các cú sốc tốt hơn so với doanh nghiệp nhỏ. Trong giai đoạn lạm phát thấp ổn định, giới nhà giàu có lẽ là hài lòng nhất: tài sản của họ vẫn tăng trưởng đều đặn theo tăng trưởng kinh tế, họ tận dụng được lãi suất thấp để mở rộng kinh doanh, và không lo ngại biến động lớn. Đây là giai đoạn họ lên kế hoạch dài hạn, đầu tư phát triển công ty, đóng góp cho tăng trưởng chung. Một điểm thú vị là một chút lạm phát thực ra có lợi cho Nhà nước và người giàu ở góc độ nợ: Chính phủ nợ công nhiều sẽ trả nợ “nhẹ” hơn khi lạm phát (thu ngân sách danh nghĩa tăng), còn người giàu đi vay cũng trả nợ dễ hơn – miễn là lạm phát trong tầm kiểm soát.
Mặt tiêu cực đối với người giàu:
- Macro Instability Risk (Rủi ro bất ổn vĩ mô): Lạm phát phi mã đe dọa ổn định kinh tế vĩ mô, làm môi trường đầu tư kinh doanh khó lường, có thể dẫn tới suy thoái – khi đó giá trị tài sản lớn của người giàu cũng bị đe dọa (cổ phiếu sụt giá, bất động sản đóng băng, v.v.).
- Real Value Erosion in Cash/Bonds (Giá trị tiền mặt, trái phiếu giảm): Mặc dù người giàu giữ ít tiền mặt tương đối, họ vẫn có một phần tài sản ở dạng tiền gửi, trái phiếu. Lạm phát cao làm bào mòn giá trị các khoản này, gây thiệt hại nếu họ không kịp tái phân bổ.
- Policy Backlash (Chính sách thắt chặt, bất lợi): Để chống lạm phát, Nhà nước có thể tăng lãi suất mạnh, tăng thuế hoặc áp trần giá… Những biện pháp này có thể khiến doanh nghiệp của người giàu chịu lợi nhuận thấp hơn, chi phí vốn cao lên hoặc tài sản bị đánh thuế nhiều hơn (ví dụ thuế bất động sản có thể tăng nhằm chống đầu cơ giá).
- Socio-political Pressure (Áp lực xã hội): Khi công luận thấy lạm phát làm người nghèo khổ hơn nhưng người giàu vẫn hưởng lợi, có thể dấy lên phản ứng xã hội, yêu cầu tăng phân phối lại (tăng lương tối thiểu, đánh thuế người giàu…). Điều này gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của giới giàu trong dài hạn.
Mặt tích cực đối với người giàu:
- Asset Inflation (Tài sản tăng giá): Lạm phát thường kéo theo giá bất động sản, cổ phiếu, vàng tăng. Nhóm giàu sở hữu nhiều tài sản nhất, nên hưởng lợi trực tiếp: tài sản của họ phình to về giá trị. Ví dụ, năm 2020-2021, tài sản giới giàu Việt Nam tăng mạnh nhờ chứng khoán và nhà đất sốt giá.
- Debt Shrinkage (Nợ giảm tương đối): Nhiều người giàu tận dụng vốn vay (đầu tư kinh doanh, vay thế chấp bất động sản). Lạm phát làm giảm thực giá trị khoản nợ, nhất là với lãi suất cố định, nên giảm gánh nặng trả nợ và tăng tài sản ròng theo thời gian.
- Profit Opportunities (Cơ hội sinh lời): Biến động giá cả tạo ra cơ hội đầu cơ, đầu tư: người giàu có khả năng nắm bắt xu hướng, đầu tư vào lĩnh vực hưởng lợi (như hàng hóa cơ bản, năng lượng khi giá hàng hóa tăng) để kiếm lời lớn. Trong khi người khác lo chống đỡ lạm phát, giới đầu tư giàu có có thể “tận dụng” lạm phát để làm giàu thêm nếu đi đúng nước cờ.
- Maintained Living Standards (Ổn định mức sống): Về khía cạnh tiêu dùng, vì chi tiêu thiết yếu chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, người giàu ít bị ảnh hưởng trong sinh hoạt hàng ngày. Họ gần như giữ nguyên mức sống cao, thậm chí còn được lợi khi giá dịch vụ cao cấp ít tăng hoặc giảm khuyến mãi để giữ chân khách VIP trong lúc lạm phát chung tăng – một lợi ích gián tiếp của vị thế giàu.
Kết Luận
Lạm phát tại Việt Nam không “cào bằng” mọi tầng lớp mà có tác động phân hóa rõ rệt: người nghèo chịu thiệt thòi nhất, tầng lớp trung lưu chật vật bảo toàn sức mua còn người giàu có nhiều cách thích nghi và thậm chí thu lợi. Trong các giai đoạn lạm phát bùng phát, khoảng cách giàu nghèo thường có xu hướng gia tăng khi nhóm yếu thế mất đi phần thu nhập thực và tài sản nhỏ bé, còn nhóm giàu có thể bảo toàn và nhân tài sản của họ. Tuy vậy, lạm phát không phải hoàn toàn tiêu cực; một mức lạm phát vừa phải đi kèm tăng trưởng có thể đem lại cơ hội việc làm, tăng tài sản ròng cho nhiều người, kể cả tầng lớp dưới. Vấn đề cốt lõi là làm sao kiểm soát lạm phát ổn định, tránh những cú sốc giá cả khiến người nghèo kiệt quệ, đồng thời tạo môi trường để mọi tầng lớp cùng phát triển. Các dẫn chứng thực tế ở Việt Nam cho thấy chính sách vĩ mô thận trọng đã giữ lạm phát ở mức hợp lý, giúp đời sống đa số người dân cải thiện dần sau những giai đoạn khó khăn. Việc hỗ trợ tập trung cho nhóm dễ tổn thương trong lạm phát (trợ giá lương thực, viện trợ trực tiếp, điều chỉnh lương tối thiểu…) kết hợp với ổn định kinh tế vĩ mô sẽ đảm bảo thành quả tăng trưởng được chia sẻ công bằng hơn. Nói cách khác, hiểu rõ tác động khác biệt của lạm phát lên người nghèo, trung lưu, giàu sẽ giúp Nhà nước và mỗi cá nhân có chiến lược ứng phó phù hợp, giảm thiểu tiêu cực và tận dụng được những điểm tích cực hiếm hoi, hướng tới một xã hội phát triển bền vững và công bằng hơn.
Tài liệu tham khảo: Lạm phát và phân hóa giàu nghèo (Kinh tế Sài Gòn); Góc kinh tế học – lạm phát và tài sản tầng lớp trung lưu (CafeF); Báo VietnamNet về lo ngại lạm phát của tầng lớp trung lưu; Báo cáo IRIN/UN về lạm phát và người nghèo Việt Nam 2008; VOV World về đời sống người nghèo 2011; cùng các nguồn khác.